7:30- 17:00

Mở cửa Thứ Hai - Thứ Sáu

0987924501

Hỗ Trợ Trực Tuyến

Tìm kiếm

Tìm kiếm

menu
Loading...
TƯ VẤN MIỄN PHÍ
menu

VI BẰNG GIAO THÔNG BÁO

     

    VI BẰNG GIAO THÔNG BÁO
    Trong một số trường hợp giao dich dân sự, pháp luật quy định các chủ thể phải báo, thông báo trước cho bên kia biết về một sự việc, một hành vi pháp lý mà chủ thể đó sẽ thực hiện ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Nếu chủ thể này không thực hiện việc thông báo hợp lệ này mà tiến hành các hành vi tiếp sau đó, làm thiệt hại cho bên đối lập thì chủ thể này phải bồi thường.
    Bộ luật dân sự năm 2015, quy định một số trường hợp các chủ thể phải tiến hành thông báo, ví dụ một số trường hợp dưới đây:
    Điều 300. Thông báo về việc xử lý tài sản bảo đảm
    1 Trước khi xử lý tài sản bảo đảm, bên nhận bảo đản phải thông báo bằng vưn bản trong một thời gian hợp lý về việc xử lý tài sản  bảo đảm cho bên bảo đảm và các bên cùng nhận bảo đảm khác
    Điều 365. Chuyển giao người yêu cầu:  “Người chuyển giao quyền yêu cầu phải thông báo bằng văn bản cho bên kia có nghiã vụ biết về việc chuyển giao quyền yêu cầu trừ trường hợp có thỏa thuận khác. Trường hợp bên chuyển giao quyền yêu cầu không thông báo về việc chuyển giao quyền mà phát sinh chi phí cho bên có nghĩa vụ thì bên chuyển giao quyền yêu cầu phải thanh toán chi phí này.
    Khoản 3 Điều 423. Hủy bỏ Hợp đồng: Bên hủy bỏ Hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về  việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.
    Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn: “1. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản và bên vay cũng có quyền trả nợ vào bất cứ lúc nào, nhưng phải báo cho nhau biết trước một thời gian hợp lý, nếu không có thoả thuận khác.

    2. Đối với hợp đồng vay không kỳ hạn và có lãi thì bên cho vay có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên vay một thời gian hợp lý và được trả lãi đến thời điểm nhận lại tài sản, còn bên vay cũng có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và chỉ phải trả lãi cho đến thời điểm trả nợ, nhưng cũng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý”.

    Khoản 1 Điều 470: “Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và không có lãi thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào, nhưng phải báo trước cho bên cho vay một thời gian hợp lý, còn bên cho vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý”.
    Ngoài ra còn nhiều sự kiện, giao dịch dân sự khác phổ biến như giao thông báo về việc chấm dứt Hợp đồng thuê nhà, đòi lại nhà cho thuê và còn rất nhiều trường hợp  giao dịch dân sự khác cần só sự giao thông báo, tài liệu để thực hiện quyền và nghĩa vụ của các bên.
    Thực tế cho thấy, các tổ chức hoặc cá nhận khi thực hiện giao thông báo một số trường hợp nêu trên thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, vì bên nhận thông báo thường bất hợp tác nên sẽ trốn tránh, không nhận thông báo, không ký nhận biên bản; mặt khác, nếu gửi qua đường bưu điện hoặc tự mình thực hiện thì không bảo đảm tính pháp lý khi có sự tranh chấp.
    Vì vậy, các tổ chức, cá nhân thường yêu cầu Thừa phát lại lập vi bằng  ghi nhận việc tổ chức, cá nhân thực hiện việc giao thông báo, tài liệu để đảm bảo tính pháp lý cao hơn. Với sự chứng kiến của Thừa phát lại, dù người nhận thông báo, tài liệu từ chối nhận, từ chối ký, thì Thừa phát lại vẫn có thể lập vi bằng để chứng minh một chủ thể đã thực hiện nghĩa vụ gửi thông báo, tài liệu cần thiết.


    Hình ảnh Vi bằng ghi nhận giao thông báo (Hình ảnh có tính chất minh họa)

    Trước thực tế đó, đã có nhiều thắc mắc: “Tại sao Thừa Phát Lại không thực hiện giao thông báo thay cho Tổ chức hoặc cá nhân mà phải lập vi bằng?”. Bởi lẽ, theo quy định của pháp luật, Thừa phát lại chỉ có chức năng tống đạt văn bản, quyết định của Tòa án, cơ quan THADS mà không tống đạt thay cho tổ chức, cá nhân khác. Thừa phát lại cũng không thể tự mình lập vi bằng hành vi của mình, mà chỉ chứng kiến ghi nhận bằng việc lập vi bằng ghi nhận sự kiện, hành vi do người khác thực hiện.
    Vi bằng được đăng ký tại Sở Tư pháp trong thời hạn 3 ngày làm việc. Vi bằng có giá trị chứng cứ, chứng cứ chứng minh việc tổ chức, cá nhân thực hiện nghĩa vụ giao thông báo, tài liệu là cơ sở để thực hiện các thủ tục kế tiếp hoặc để làm chứng cứ trong thủ tục tố tụng dân sự.

    • Chia sẻ qua viber bài: VI BẰNG GIAO THÔNG BÁO
    • Chia sẻ qua reddit bài:VI BẰNG GIAO THÔNG BÁO

    Bài Viết Liên Quan

    LẬP VI BẰNG GHI NHẬN BUỔI LÀM VIỆC, CUỘC HỌP, GIAO NHẬN VĂN BẢN CỦA CÁ NHÂN, TỔ CHỨC, CÔNG TY, DOANH NGHIỆP.

    Cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị (C.ng ty cổ phần), Họp hội đồng thành viên (Công ty TNHH), Hội đồng kỷ luật hoặc một cuộc họp khác để ra những quyết sách quan trọng đến công ty. Đây là một cuộc họp quan trọng và đang tiềm ảnh phát sinh tranh chấp giữa các bên có liên quan.

    TỔNG HỢP CÁC TRƯỜNG HỢP LẬP VI BẰNG PHỔ BIẾN!

    Bạn hoặc doanh nghiệp của bạn sắp xây dựng 1 công trình nhưng e ngại việc mình bị người khác ở liền kề công trình kiện đòi vô lý về những thiệt hại của họ nhưng không phải do việc mình xây dựng công trình gây ra. Ví dụ, nhà họ bị nứt, lún từ trước nhưng vẫn đổ lỗi là do mình xây dựng công trình làm nhà họ nứt, lún… Thừa phát lại sẽ đáp ứng yêu cầu của bạn lập vi bằng ghi nhận hiện trạng các công trình liền kề bên cạnh trước khi bạn xây dựng. Công việc này đảm bảo nguyên tắc, bạn có gây thiệt hại thì bạn mới phải bồi thường, thiệt hại bao nhiêu thì sẽ bồi thường bấy nhiêu.

    VI BẰNG GHI NHẬN CHỨNG CỨ GHI ÂM, GHI HÌNH VÀ DỮ LIỆU ĐIỆN TỬ

    Thực tế những năm gần đây, trong hoạt động Thừa phát lại, chúng tôi gặp khá nhiều trường hợp như: đương sự cần xác nhận nợ, xác nhận một nghĩa vụ nhưng đối tác không muốn ký văn bản xác nhận, hoặc ra Tòa làm chứng; trường hợp cung cấp hình ảnh về một vụ tai nạn giao thông, hoặc tường hợp các trang web đăng tin vi phạm bản quyền sản phẩm hoặc sở hữu trí tuệ v.v… đã tìm đến Thừa phát lại. Chúng tôi đã đáp ứng yêu cầu của các đương sự thu thập chứng cứ đúng quy định của pháp luật.

    VI BẰNG VỀ VIỆC ĐẶT CỌC

    Theo quy định của pháp luật dân sự hiện hành thì hợp đồng đặt cọc chỉ cần lập thành văn bản mà không cần phải công chứng tại tổ chức công chứng hay chứng thực tại UBND. Tuy nhiên, với quy định trên cộng với tâm lý chủ quan của người đặt cọc không ít lần người đặt cọc phải chịu thiệt hại. Đặc biệt, những rủi ro này thường rơi vào việc đặt cọc nhằm đảm bảo cho các giao dịch mua bán, chuyển nhượng những tài sản có giá trị lớn (nhà đất, xe hơi…).

    Tìm Kiếm

    Dịch Vụ Nổi Bật

    Không có thông tin cho loại dữ liệu này

    Fanpage

    thuaphatlaiquan12.vn